29 Oct 2008

Mùa đông: Những thói quen không tốt cho sức khỏe

Có rất nhiều thói quen sinh hoạt vào mùa đông có hại cho sức khoẻ nhưng thường bị nhiều người hiểu nhầm là đúng và tốt cho cơ thể. Dưới đây là một số thói quen như vậy:
1. Đeo khẩu trang chống lạnh

Trong mũi có rất nhiều mạch máu nhỏ để không khí lạnh được sưởi ấm khi đi qua và khi vào phổi thì đã đạt nhiệt độ gần với thân nhiệt.

Trong khi đó, nếu dựa vào khẩu trang chống lạnh lại dễ làm cho cơ thể trở nên yếu ớt (do không được tập luyện), từ đó dễ bị nhiễm cảm lạnh.

2. Che kín đầu khi ngủ

Trùm kín đầu trong chăn khi ngủ sẽ ấm hơn nhưng như thế dưỡng khí để bạn thở sẽ ngày càng ít. Chất CO2 và các chất có hại cho cơ thể ngày càng nhiều. Vì vậy những người nằm ngủ trùm kín đầu sau khi tỉnh dậy thường cảm thấy mơ mơ tỉnh tỉnh, mệt mỏi, đuối sức.

3. Dùng nước nóng rửa mặt

Vào mùa đông, phần mặt của con người dưới sự kích thích của không khí lạnh, tuyến mồ hôi, huyết quản mao mạch đều nằm trong trạng thái “co”. Khi gặp phải nước nóng thì ngay lập tức nở ra nhưng nhiệt lượng sau khi phát ra lại lập tức quay lại trạng thái ban đầu. Các mao mạch vừa nở vừa co như vậy sẽ dễ hình thành nhiều nếp nhăn trên mặt.

4. Uống rượu chống lạnh

Sau khi uống rượu sẽ có cảm giác toàn thân nóng lên. Đó là do cồn làm cho cơ thể toả nhiệt năng sẵn có trong cơ thể. Sau khi hết rượu, do đa phần nhiệt lượng đã toả ra ngoài, làm cho toàn thân lạnh nổi gai ốc, dẫn đến hậu quả bị lạnh sau khi uống rượu.

5. Sưởi ấm chân tay bị lạnh bên đống lửa

Mùa đông lạnh, chân tay thường xuyên để lộ ra bên ngoài, các mạch máu co lại, lượng máu giảm đi. Lúc này nếu ngay lập tức sưởi ấm tay chân trên đống lửa sẽ làm cho huyết quản tê liệt, mất đi lực co hồi, gây ra hiện tượng tụ máu, các mạch máu nở to, độ thẩm thấu tăng mạnh, ứ đọng máu từng vùng, nhẹ thì gây ra lở loét nặng thì gây ra hoại tử các tế bào. Vì vây, khi chân tay bị lạnh cóng chỉ nên nhẹ nhàng xoa hai bàn tay vào nhau để tăng nhiệt dần dần.

6. Dùng tay gãi chỗ ngứa

Mùa đông, do thời tiết khô hanh toàn thân cảm thấy ngứa ngáy thì không nên dùng tay gãi, nếu không dễ bị tróc da gây nên viêm nhiễm.

Phương pháp phòng chống là uống nhiều nước, ăn nhiều rau xanh và hoa quả tươi, ít ăn các chất chua cay, ít uống rượu mạnh, giữ vệ sinh sạch sẽ, thường xuyên thay quần áo lót.

Người bị ngứa trầm trọng thì có thể uống thuốc chống dị ứng và bôi thuốc ngoài da nhưng không nên tuỳ tiện mua thuốc mà nên đi khám và mua thuốc theo chỉ dẫn của bác sỹ.

25 Oct 2008

`Out of Control' CEOs Spurned Davos Warnings on Risk

Oct. 24 (Bloomberg) -- Once upon a time, the World Economic Forum was the ultimate Wall Street jamboree.
Now, in the riptide of the worst financial crisis since the Great Depression, WEF officials and delegates say many of the chief executive officers who gathered in Davos, Switzerland, over the last five years didn't listen to warnings from their peers. Davos organizers also say they failed to play tough with the financial-industry bosses, opting to accept their funding and let them turn Davos into a rave-up for Wall Street excesses.
``The partying crept in,'' says Klaus Schwab, the 70-year- old WEF founder and executive chairman. ``We let it get out of control, and attention was taken away from the speed and complexity of how the world's challenges built up.''
The fallout has left the WEF riddled in buyer's remorse, with officials throughout the organization asking what they have wrought and, like Wall Street, whether they offered too much of a good thing.
Schwab says the delegates treated him like ``Cassandra'' whenever he questioned the logic of their wisdom on asset-price bubbles in housing, stocks and other financial instruments.
WEF Chief Operating Officer Kevin Steinberg says the vast sums of money that rolled in from Wall Street celebrities for marquee billing in Davos contributed to complacency among forum organizers and often obliged them to publicly massage the viewpoints, wishes and status of their superstar guests.
``We catered to what the financial leaders wanted: solo speaking slots, luxury hotels and VIP treatment we wouldn't afford anyone else,'' Steinberg, 38, says. ``We gave them a soapbox. It was all political. We try to minimize the politics, but can't.''
`Psychological Denial'
In his office outside Geneva, about a three-hour drive from Davos and overlooking the French Alps, Schwab says the WEF began issuing warnings in 2003 to investment banks, insurance companies and hedge funds about the systemic risk gnawing at the foundation of the global economy.
``But the financial community didn't listen,'' Schwab says. ``They were told that any serious look at the economic fundamentals showed that we were in an unstable situation. It was denial, total psychological denial.''
For next year, Schwab says his goal is to transform Davos into the ``Bretton Woods of the new millennium,'' a meeting targeted at establishing a fresh set of global rules for commercial and financial relations, much as the original Bretton Woods conference in New Hampshire did in the summer of 1944.
Ending the Merrymaking
As for the merrymaking, Schwab vows ``it won't happen again.'' Unlike Bretton Woods, companies will still pay as much as $750,000 each in annual fees to send executives to Davos.
William Browder, founder of Hermitage Capital Management Ltd. in London and an eight-year WEF veteran, isn't so sure Schwab can pull it off.
``An exercise in moderation is something the private sector doesn't do very well,'' Browder says.
Each January, global financial titans and their entourages gathered in the Alpine hamlet. A band of fluegelhorns wandered in hotel lobbies, heralding the arrival of delegates such as Lehman Brothers Holdings Inc. CEO Richard Fuld Jr., Freddie Mac CEO Richard Syron and U.S. Treasury Secretary Henry Paulson, along with actresses such as Angelina Jolie and Sharon Stone.
Bundled in cashmere coats and goose-down parkas, the WEF's 2,500 ``global leaders'' set off to attend a medley of 500 public and private sessions designed to isolate economic problems, clarify disturbing market trends and forge innovative solutions.
The Stunts
In the days leading up to the conference, volunteers in lederhosen draped the village with hundreds of white and blue banners that declared the 38-year-old conclave's purpose: ``Committed to Improving the State of the World.''
WEF organizers often pulled stunts to hoodwink delegates who preferred partying and meeting privately with clients over attending forum sessions.
In the ``Why Do Brains Sleep?'' meeting in 2007, a cadre of eminent psychologists and psychiatrists explored whether financial leaders got enough rest and ``what that tells us about the quality of their decision-making.''
To spur delegates into addressing financial-market alienation, a session in 2004 was held to discuss whether extraterrestrials had taken control of Wall Street: ``Have Extraterrestrials Made Contact With Government Leaders?''
The ruse didn't work.
Steinberg recalls the attitude among some of the delegates at Davos from 2003 through last January.
Didn't Listen
``It was clear irresponsibility on their part and it's more damning than anyone can imagine,'' says Steinberg, who has been with the WEF for more than a decade. The former McKinsey & Co. management consultant supervises the forum's finance-industry delegates.
``By 2003, the over-leveraging of the system was a serious topic of conversation, but the some 60 of WEF's corporate members from the financial world never had an understanding of how big a problem it was,'' Steinberg adds. ``We had assembled the world's greatest economic experts to confer with them, and the financial community was not aware of that expertise.''
In 2005, Schwab says WEF's delegates from Wall Street were eyebrow-deep in booming markets, easy money and intense pressure to take greater risks, borrow more and seek higher returns.
One of WEF's sessions that year was ``Spotting the Next Bubble Before It Bursts.'' Goldman Sachs Group Inc. CEO Lloyd Blankfein ran the meeting with Syron, then CEO of Freddie Mac, the now-discredited U.S. government-sponsored mortgage buyer and reseller that along with Fannie Mae in September required a $200 billion U.S. government bailout.
Spotting Bubbles
The Blankfein-Syron mission: ``Spotting where and when the next bubbles are likely to occur and how we can get better at spotting and resisting bubbles,'' according to the program.
Yet Wall Street ignored the solutions offered at the meeting, says WEF Senior Director W. Lee Howell, 44, whose office created the session.
``I often wonder how many members were actually listening to what was being said,'' Howell says. ``I know the American financial community didn't show up in Davos to listen.''
Another ``bubble'' session the following January looked at real estate and was led by Stephen Roach, then Morgan Stanley's chief economist, who now is chairman of Morgan Stanley Asia Ltd.
``A sharp decline in housing prices could have a tremendous impact on the global economy; in the U.S. alone, 40 percent of new jobs since 2001 have been related to the housing sector. With low interest rates and excess liquidity, other bubbles may follow,'' the program read.
Divide, Conquer
Steinberg says the most-discussed housing issue among some delegates centered on Davos's Belvedere Hotel, where corporate chieftains and their deputies were ``more interested in entering into bidding wars to secure the biggest party room than they were in attending sessions held there.''
As Steinberg tells it, Wall Street arrived in Davos with a ``divide-and-conquer strategy'' that focused on using WEF to woo new clients and ``launch sales campaigns'' instead of ``collectively taking action to mitigate the evident systemic risk.''
The five-day annual forum, which also attracts scholars and scientists, has always been eclectic. Racing Audis on the ice of a nearby lake and attending snow-polo matches in St. Moritz have been popular diversions. The dress code was casual, and the garb of Wall Street, Schwab says, was perhaps unsuited to the cold and candid camaraderie of Davos. ``There is a certain discomfort with snow,'' Schwab says.
Storm Flags
Steinberg says there were scores of ``intelligent people'' raising storm flags in Davos for the last five years.
In 2007, former U.S. Treasury Secretary Lawrence Summers warned of complacency. He returned to the village in 2008 to say ``a cascading loss of confidence'' threatened to paralyze the global economy, comparing the market mood with the economic sentiment that prevailed just before World War I.
Guidance was offered by monetary-policy makers such as European Central Bank President Jean-Claude Trichet and Bundesbank President Axel Weber as well as economic wise men, including Yale University Professor Robert Shiller, U.S. Congressman Barney Frank and World Bank Director of Governance and Anti-Corruption Daniel Kaufmann. Such advice was swatted away by American confidence salesmen such as Michael Klein, co- president of Citigroup Inc.'s investment-banking unit, and David Rubenstein, managing director at the Carlyle Group buyout firm.
``I warned them all about global risk and the abusive nature of their actions, but they had no incentive to change,'' says Kaufmann, recalling his seven years as a global leader at Davos. ``And why should they have listened to us? I see it with my 10- year-old daughter, who scolds me because I don't put the garbage in the correct bin. Let's not delude ourselves. It's impossible to teach old dogs and investment bankers new tricks unless you change the incentive structure.''
The `Animals'
``It was all laid out in Davos,'' says WEF delegate Daniel Loeb, 46, owner of Third Point LLC, a New York-based hedge fund. ``The investment bankers got so caught up in competing with each other that they used the place to schmooze, instead of actually learning about what was going on in the world.''
Howell describes the Davos attendees in zoological terms:
``The investment banks, private-equity funds, hedge funds and insurance companies were the animals Davos was most fascinated with. But they were exotic animals that people who ran these businesses never took the time to grasp what the world at large thought they knew.''
To contact the reporter on this story: A. Craig Copetas in Paris at ccopetas@bloomberg.net. Last Updated: October 24, 2008 15:45 EDT

23 Oct 2008

Đôla đã tới lúc hấp hối?

Chúng ta đang sống trong sự hoảng loạn về kinh tế. Ngân hàng, nhà cửa, việc làm và doanh nghiệp đều đang đối diện rủi ro.
Tuy nhiên, có một thứ dường như vẫn ổn định một cách đáng để tìm hiểu.
Đó là đồng đôla Mỹ. Nó là biểu tượng, và là đòn bẩy, của quyền lực và vị thế lãnh đạo của Hoa Kỳ.
Nó là đơn vị chuẩn để đo phần lớn các hoạt động kinh tế thế giới.
Và trong thời gian khủng hoảng, nó thường là chốn trú ẩn.
Tuy nhiên về dài hạn, một số chuyên gia tin rằng cuộc khủng hoảng này sẽ đánh dấu một bước ngoặt đối với thế mạnh vốn có của đôla.
Khủng hoảng sẽ đẩy nhanh quá trình tuột dốc của sức mạnh đồng tiền vốn mất giá nhiều năm trước và chỉ khởi sắc trong giai đoạn gần đây.
Avinash Persaud, Chủ tịch Intelligence Capital Limited nói: “Tôi nghĩ cuộc khủng hoảng tài chính ngày nay sẽ đẩy nhanh quá trình chấm dứt tình trạng đôla được lưu trữ như tiền tệ của thế giới”.
‘Đặc ân quá xá’
Khủng hoảng tài chính sẽ chấm dứt xu hướng lưu trữ đôla

Avinash Persaud, Chủ tịch Intelligence Capital Limited
Ông phân vân liệu chi phí chiến tranh gộp với các kế hoạch ứng cứu cho khu vực tài chính tại Hoa Kỳ có thể đang bị xem là một gánh nặng quá mức đối với Hoa Kỳ hay không.
Thế nhưng việc đôla không trở thành đồng tiền dự trữ sẽ chấm dứt điều được xem từ nhiều phương diện là lợi thế vô cùng lớn của Hoa Kỳ.
Lợi thế này đôi khi được xem là khả năng viết séc mà chẳng ai qui đổi séc ra tiền mặt.
Do vậy, đối với chính phủ Hoa Kỳ, thì đơn giản không có chuyện sống dựa vào nguồn khác nữa.
Với việc các phần còn lại của thế giới cần đôla, điều Hoa Kỳ cần làm là tiếp tục in tiền.
Tức là Hoa Kỳ có thể làm những việc mà không chính phủ nào có thể tưởng tượng được, một sức mạnh và các đối thủ của Hoa Kỳ từ trước tới này lên án và gọi đó là “đặc ân quá xá”.
Vào đầu những năm 1970, Bộ trưởng Tài chính Mỹ John Connally thậm chí nói với các nước bằng giọng kẻ cả rằng đôla là “tiền của chúng tôi, nhưng là vấn đề của quí vị”.
Âu châu và euro
Trung Quốc dự trữ nhiều đôla do xuất khẩu mạnh
Kể từ đó Âu châu đã bắt đầu kiến tạo đồng tiền cho họ, euro, là đồng tiền đã và đang có một vai trò toàn cầu.
Đồng euro tăng sức mạnh so với đồng đôla và thách thức một số uy tín hào nhoáng của đôla.
Người mẫu đắt giá ở New York bắt đầu đề nghị ký hợp đồng thanh toán bằng euro thay vì đôla.
Tuy nhiên giới lãnh đạo Âu châu chưa muốn thấy đồng tiền của họ là nguồn dự trữ ngoại hối của thế giới.
David March, chuyên viên ngân hàng, mới hoàn tất cuốn sách về sự khai sinh của euro nói “Châu Âu có ít tham vọng hơn rất nhiều so với Hoa Kỳ”.
Rủi ro tiềm ẩn
Vậy một ngôi sao kinh tế đang nổi lên như Trung Quốc có thể rồi sẽ tiếp quản vai trò chi phối toàn cầu thay cho đôla hay không ?
Hiện tại, Trung Quốc thiếu các thị trường mở và các định chế hỗ trợ cho vai trò đó.
Tuy nhiên Avinash Persaud chỉ ra rằng cách đây khoảng một thế kỷ thì người ta cũng nói điều tương tự với Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ không có Ngân hàng Trung ương cho tới năm 1913, tuy nhiên chỉ sau đó vài thập niên đồng đôla đã thay thế đồng bảng Anh với vị thế thống soái toàn cầu.
Vào lúc này, Trung Quốc đang đối diện rất nhiều rủi ro đối với những gì sẽ xảy ra với đôla Mỹ bởi Trung Quốc đã tích trữ hơn 1000 tỷ đôla nhờ giai đoạn xuất khẩu lớn vừa qua.
Do đó Trung Quốc có lợi ích gắn liền với đồng đôla được giá. Tuy nhiên Bắc Kinh cũng có lợi thế có thể làm khuynh đảo đồng tiền Hoa Kỳ nếu họ quyết định làm như vậy.
Đôla được giá làm giới xuất khẩu Mỹ khó bán hàng
Một cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ gọi khả năng này là “cán cân khủng bố tài chính”.
Tuy nhiên các chuyên gia cho rằng vì quyền lợi gắn liền như vậy nên khả năng đe dọa tài chính là có giới hạn.
Do đó, người ta thấy sẽ có một kiểu mới trong lối ngoại giao kinh tế, đặc biệt là đối với các Quốc gia vùng Vịnh.
Các nước này không chỉ trữ đôla mà còn bán dầu bằng đôla.
Chính phủ Mỹ đang nằm trong thế tiến thoái lưỡng nan. Các nước trữ nhiều đôla có thể yêu cầu đồng đôla mạnh, nhưng đôla được giá lại làm các nhà xuất khẩu Mỹ bất lợi.
Đôla được giá khiến cho việc chế tạo xe hơi và máy tính bán ở nước ngoài với giá đắt hơn.
Do vậy người ta đã để đôla trượt giá âm thầm trong vòng sáu năm qua và đôla yếu là bàn đạp cho các nhà xuất khẩu Hoa Kỳ.
Jim O’Neill, người đứng đầu Nhóm nghiên cứu của Goldman Sachs, tin rằng chúng ta đang đối diện thực trạng đáng lo ngại vì sẽ không có đồng tiền nào đóng vai trò lãnh đạo theo lối đôla Mỹ như trước.
Do vậy Tổng thống sắp tới của Hoa Kỳ có nhiệm vụ phải cân bằng sao cho tế nhị.
Nếu các nước trữ nhiều đôla không hài lòng với những gì xảy ra với đồng tiền này, họ có thể sẽ tìm giải pháp thay thế.
Và mọi người đều biết rằng sức mạnh của đôla sẽ tới lúc suy bởi cán cân sức mạnh kinh tế đã thay đổi.
Vậy là đôla Mỹ không chỉ là đồng tiền của Hoa Kỳ và là vấn đề của mọi nước. Đôla nay là tiền của thế giới, và vấn đề nằm chủ yếu ở Hoa Kỳ.

17 Oct 2008

Dàn 'cầu thủ' kinh tế kém - Thu Tuong Vietnam

Các kinh tế gia Việt Nam đều thấy khó giải thích về chuyện thâm hụt mậu dịch của nước này lên tới gần 16 tỷ đô la trong chín tháng đầu tiên của năm nay.
Một số người cho rằng ''thâm hụt mậu dịch kỷ lục là bất bình thường.''
Theo Tổng Cục Thống kê, thâm hụt mậu dịch của Việt Nam ở mức năm tỷ đô la hồi năm 1995 nhưng tăng đột biến vào năm 2007.
Tính theo phần trăm của GDP, thâm hụt mậu dịch ở mức trung bình 10% trong giai đoạn 2002-2006 nhưng tăng lên 20% trong 20 tháng qua.
Thâm hụt mậu dịch của Việt Nam bị coi là bất bình thường vì xuất khẩu của Việt Nam tăng đáng kể.
Các mặt hàng xuất khẩu như dầu thô, than, cao su, hạt tiêu, gạo, cà phê và chè đã giúp Việt Nam thu được hơn 48 tỷ đô la từ đầu năm tới nay.
Con số này tăng gần 40% so với cùng kỳ năm ngoái.
Mối liên hệ giữa thâm hụt mậu dịch và tăng trưởng xuất khẩu này, theo kinh tế gia Vũ Đình Anh từ Viện Nghiên cứu Giá và Thị trường là ''trái với quy luật kinh tế, một điều không thấy ở các nước đang phát triển khác.''
Nhìn chung các nước đang phát triển, ngay cả những nước chậm phát triển nhất cũng không nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu.
Lạm phát nhảy tango
Trong đa số trường hợp, mối liên hệ giữa thâm hụt mậu dịch và lạm phát là rất chặt chẽ: thâm hụt mậu dịch càng cao bao nhiêu, lạm phát cũng càng cao bấy nhiêu.
Lạm phát ở Việt Nam tăng cùng thâm hụt mậu dịch
Thực tế tại Việt Nam là khi thâm hụt mậu dịch tăng lên 20% thì lạm phát cũng được ước tính vào khoảng 24% trong năm nay trong khi lạm phát trung bình của các năm 2001-2007 đều dưới mức tăng trưởng Tổng Sản phẩm Quốc nội GDP.
Các kinh tế gia ở Việt Nam cũng đã nhìn ra cách giải quyết vấn đề, ít nhất là trong ngắn hạn.
Các giải pháp bao gồm việc tạo ra những ngành công nghiệp dùng các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam cũng như kiềm chế thâm hụt mậu dịch có thể lên tới 13 tỷ đô la trong năm nay (chín tỷ trong năm 2007) với Trung Quốc.
Đây là mức thâm hụt mậu dịch lớn nhất của Việt Nam với một nước bạn hàng.
Ngoài ra các kinh tế gia cũng nói tới sự cần thiết phải đầu tư và tạo điều kiện giúp cho khu vực tư nhân tăng năng suất trong ngành nông nghiệp và hải sản.
Điều này sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng nhiều hơn và dẫn tới nhu cầu nhập khẩu sẽ ít đi.
Người Việt Nam vẫn thích hàng nhập khẩu hơn vì cho rằng chúng có chất lượng cao hơn.
Điều thú vị là các kinh tế gia Việt Nam thừa nhận rằng các giải pháp cho nền kinh tế của họ chỉ là tạm thời và không thể giải quyết tận gốc vấn đề.
Nhưng họ bàn tới cái gốc của vấn đề, ít nhất là không công khai bàn bạc.
Sự thật
Nhìn chung những phân tích độc lập của các chuyên gia kinh tế đang bị giới hạn bởi các quy định mới về quyền lợi và nghĩa vụ của trí thức.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản không khác với một huấn luyện viên bóng đá, người chọn những cầu thủ yếu nhất để chơi trong trận tranh chức vô địch.

Báo cáo của Harvard
Điều này được áp dụng chặt chẽ ''khi họ tham gia vào các dịch vụ tư vấn hay bình luận về dự án phát triển kinh tế xã hội'', hội nghị trung ương hồi tháng Bẩy đã quy định.
Trong mấy năm gần đây, ''tiếng nói của đảng'' đã được tái khẳng định và những ai vi phạm sẽ chịu hậu quả.
Điều này có nghĩa là hệ thống một đảng không có động lực để ''đối mặt với sự thật một lần nữa''.
Nhưng đâu là sự thật?
Trong quá khứ, các thủ tướng Việt Nam đã dùng tới hội đồng cố vấn kinh tế nhưng khi ông Nguyễn Tấn Dũng lên nhậm chức hồi tháng Sáu năm 2006, ông đã cho giải tán hội đồng này.
Tuy nhiên ông đã đề nghị Chương trình Việt Nam của Harvard tiến hành phân tích chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Báo cáo của Harvard ra hồi tháng Giêng năm 2008 nói rằng ''các cơ quan nhà nước Việt Nam trong đó có cơ quan chính trị, hành chính và nghiên cứu ngày càng bị ảnh hưởng bởi các nhóm lợi ích.
Các nhóm này ''lợi dụng cơ quan nhà nước để làm giàu cá nhân và nâng cao địa vị'' và chính vì vậy ''mối đe dọa lớn nhất đối với nhà nước là sai lầm của chính nhà nước.''
Báo cáo cũng nói ''lạm phát ở Việt Nam là do sai lầm của chính phủ là kết qủa của việc quản lý kinh tế vĩ mô yếu kém và các quyết định đầu tư không hiệu quả.''

Việt Nam quan tâm tới đánh giá của Harvard về chính sách kinh tế của mình

Phó GS Lê Sỹ Long
Báo cáo kết luận rằng Việt Nam cần cam kết chính trị chứ không phải là kỹ thuật để phát triển với tốc độ cao trong vòng 20-30 năm tới.
Cam kết chính trị ở Việt Nam là rất cần thiết để thúc đẩy cải cách và nhân rộng những cách làm tốt về tính hiệu quả của nhà nước, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và các quyết định đầu tư tốt nhất.
Thật khôi hài khi báo cáo cũng coi sự lãnh đạo của đảng cộng sản ''không khác với một huấn luyện viên bóng đá, người chọn những cầu thủ yếu nhất để chơi trong trận tranh chức vô địch.''
Không thể thay thế
Báo cáo của Harvard thực ra cũng chỉ nói những gì mà trí thức Việt Nam đã biết.
Chẳng hạn giáo sư có uy tín Phan Đình Diệu đã nhận định rằng sự quản lý doanh nghiệp nhà nước khó có thể mang lại các doanh nghiệp mạnh và năng động.
Ông cũng nói rằng bất kỳ một hệ thống chính trị hiệu quả nào cũng phải có ''lựa chọn thực sự''.
Bởi vậy một hệ thống đa đảng có lợi cho Việt Nam vì như vậy không một nhóm nào có thể ''buộc tất cả các nhóm khác mãi phải chấp nhận một con đường đã chọn vào một thời điểm trong quá khứ.''
Đảng Cộng sản như một huấn luyện viên không ai có thể chất vấn và sa thải nhưng luôn chọn cầu thủ kémBầu không khí chính trị hiện nay không có chỗ cho những trí thức và chuyên gia như ông Diệu.
Bên cạnh đó, dường như cũng không thiếu những người tài có thể vượt lên trên lòng trung thành đảng phái.
Nhưng do những trói buộc hiện tại, đa số đã quyết định cố gắng làm những gì trong phạm vi có thể được.
Hầu hết nếu không muốn nói là tất cả các nghiên cứu quan trọng về phát triển kinh tế Việt Nam của Harvard, Ngân hàng Phát triển Á Châu hay Liên Hiệp Quốc đều do các học giả Việt Nam chấp bút hoặc cùng chấp bút.
Trong các nghiên cứu như vậy, các học giả Việt Nam là những người không thể thiếu vì họ có những thông tin cập nhật nhất và kiến thức thực tế về tình hình chính trị xã hội ở Việt Nam.
Nhưng các trí thức Việt Nam nói họ không thể mổ xẻ gốc rễ vấn đề kinh tế Việt Nam vì họ không được phép.
Cho tới khi họ có thể làm như vậy, Việt Nam sẽ tiếp tục có những cầu thủ kém nhất với một huấn luyện viên mà không ai có thể chất vấn hay sa thải.
---------------------------------------------------
PV, Hoa Kỳ
Tôi xin phép không đồng ý với vài điểm chính trong bài viết này. Xuất khẩu tăng 40% phần lớn là do giá dầu thô và các mặt hàng nông sản đã tăng cao trong vòng vài tháng qua. Nhập khẩu cũng tăng cao một phần vì giá xăng dầu, là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam và các mặt hàng nhập khẩu khác đều lên cao.
Vào lúc đầu tư trực tiếp vào Việt Nam tăng mạnh trong mấy tháng đầu năm nay, thâm hụt mậu dịch không là điều bất bình thường và cũng không phải là điều đáng lo ngại. Một phần lớn số tiền đầu tư trực tiếp này phải chạy vào Việt Nam qua máy móc và vật liệu nhập khẩu.
Nếu số tiền thâm hụt mậu dịch được dùng vào mục đích đầu tư có hiệu qủa thì việc thâm hụt là điều rất nên khuyến khích trong điều kiện Việt Nam hiện tại.
Một trong những điều đáng ngại nhất về chính sách kinh tế của e kip ông Dũng là việc tiền VND được định giá quá cao. Điều này có vài điểm lợi nhưng lại làm suy yếu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu và đồng thời làm tăng cao giá nhân công lao động nội địa của Việt Nam, làm giảm đi sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào sản xuất giúp tạo công ăn việc làm ở Việt Nam.