9 Oct 2008

Một cái nhìn mới về lạm phát

Vì sao khi lạm phát xảy ra nền kinh tế trở nên trì trệ? Chúng ta có thể làm gì để đối phó với lạm phát? Trên hàng loạt các báo (như báo Tuổi trẻ) đang kêu gọi mọi người cùng nhau tiết kiệm để chống lạm phát, liệu đó có phải là việc làm đúng?

Bài viết hôm nay xin trình bày một cái nhìn cũ mà không cũ về lạm phát. Bài viết chỉ mang tính chia sẻ một quan niệm, mong được các saganor đóng góp ý kiến.

Lạm phát ở nước ta có thể nói đã nhen nhóm từ năm 2006 và đã thật sự bùng nổ vào năm 2008 này. Các chính sách vĩ mô từ nhà nước nhằm đối phó với lạm phát có thể xem là những liều thuốc đúng với ...sách vở về Kinh tế vĩ mô. Các biện pháp thắt chặt dòng lưu thông ra ngoài của tiền tệ đã được áp dụng một cách mạnh mẽ: Điều chỉnh tỉ lệ lãi suất, Tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, bắt buộc các ngân hàng mua công trái v.v.. Về mặt vĩ mô mà nói, đó thật sự là các biện pháp hiệu quả để thắt chặt cung tiền (vì lạm phát là do có quá nhiều tiền trong lưu thông), từ đó cân đối lại các luồng tiền trong lưu thông. Thế nhưng có một vấn đề luôn xảy ra biến các biện pháp trên của nhà nước vô tình trở thành đà hãm tốc độ phát triển kinh tế.

Vấn đề đó là lạm phát ngoài ý nghĩa có lượng dư tiền trong lưu thông, nó còn bao hàm việc giá cả tăng đột biến (tốc độ tăng giá cao hơn tốc độ tăng GDP) của các mặt hàng thiết yếu hàng ngày. Như vậy, khi nhà nước thực hiện các chính sách thắt chặt cung tiền như trên, vô tình đã đẩy người dân đối mặt với 2 vấn đề:

1. Giá cả mặt hàng thiết yếu tăng
2. Nguồn cung tiền bị thắt chặt

Với cảm nhận của một người dân bình thường, chỉ cần một trong hai vấn đề trên xảy ra, họ sẽ ngay lập tức tìm cách tiết kiệm chi tiêu. Ở đây, đồng loạt cả 2 vấn đề cùng xảy ra thì việc tiết kiệm chi tiêu của họ sẽ càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Vì thế hàng loạt các bài báo trong giai đoạn vừa rồi đã kêu gọi toàn dân tiết kiệm nhằm đối phó với lạm phát.

Thế nhưng trong kinh tế vĩ mô cũng có một nghịch lý:" Quốc gia nào càng tiết kiệm, quốc gia đó càng nghèo."

Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể giúp các bạn dễ hình dung: Giả sử toàn quốc gia chúng ta chỉ có 3 nhóm người

Nhóm 1: những người công nhân làm việc cho công ty kinh doanh vật liệu xây dựng.
Nhóm 2: những người chủ của công ty xây dựng.
Nhóm 3: Những người kinh doanh cửa hàng ăn uống phục vụ cho cả 2 nhóm trên
Khi không có lạm phát :

Nhóm 1 sẽ ăn thường xuyên ở nhóm 3, nhóm 3 thu được lợi nhuận nhiều và sẽ mua nhiều vật liệu xây dựng từ nhóm 2 nhằm xây dựng nhà cửa, mở rộng cơ sở sản xuất. Nhóm 2 bán được nhiều vật liệu cũng có nghĩa là tạo công việc làm ổn định, đầy đủ cho nhóm 1. Và nhóm 1 nhận được nhiều tiền lương từ nhóm 2 rồi tiếp tục chu trình ăn ở nhóm 3 như trên. Quá trình này sẽ giúp cho kinh tế ngày càng phát triển.

Khi lạm phát xảy ra

Giá cả tăng nhanh làm những người nhóm 1 không còn ăn nhiều ở nhóm 3, nhóm 3 không có nhiều lợi nhuận để có thể tiếp tục mua vật liệu từ nhóm 2. Vì nhóm 2 không bán được vật liệu nhiều nên không tạo được công việc cùng đồng lương ổn định cho nhóm 1. Nhóm 1 không nhận được nhiều tiền lương như trước thì lại càng tiết kiệm chi tiêu cho nhóm 3, chu trình này cứ tiếp tục và làm cho nền kinh tế trì trệ.

Ví dụ trên cũng giải thích rõ vì sao khi lạm phát xảy thì nền kinh tế sẽ phát triển trì trệ.

Từ ví dụ trên rõ ràng chúng ta có thể thấy, ngay cả khi lạm phát xảy ra, nếu người dân tiết kiệm chỉ làm cho nền kinh tế thêm trì trệ. Nếu người dân vẫn tiêu dùng bình thường như trước khi lạm phát, nền kinh tế sẽ nhanh chóng vượt qua cơn suy thoái. Tuy nhiên, đó phải là sự tiêu dùng có chọn lọc. Tức là, chính phủ cần giúp cho người dân hiểu hơn nữa về tinh thần dân tộc, khuyến khích người dân tiêu dùng hàng trong nước (làm như vậy sẽ giúp doanh nghiệp tạo đầy đủ công ăn việc làm cho người dân trong nước), giảm triệt để các khoản chi tiêu hàng nước ngoài (dòng tiền từ sự tiêu dùng này sẽ đi ra ngoài quốc gia).

Bài viết trên chỉ mong chia sẽ một nhìn nhận khác, một hướng giải quyết khác cho vấn đề lạm phát. Rất mong nhận được sự chia sẽ từ các bạn Saganor.

Vị Trí của Tp HCM so với cả nước ( 2001-2005 )

Bảng So Sánh Tp HCM với cả nước.

                           2001 2002 2003 2004 2005
1. Diện tích tự nhiên 0,6 0,6 0,6 0,6 0,6
2. Dân số 6,7 6,8 7,0 7,0 7,5
3. Tổng sản phẩm trong nước 17,6 18,0 18,4 18,5 20,2
4. Giá trị sản xuất công nghiệp 29,4 29,6 29,4 28,8 27,9
5. Dự án đầu tư nước ngoài  34,8 29,6 33,7 34,5 34,9
    được cấp phép
Tổng vốn đăng ký (triệu USD) 11,2 20,2 20 20,7 21,0
6. Tổng mức hàng hóa bán lẻ 25,8 26,2 25,1 24,3 22,7
7. Kim ngạch xuất khẩu 40,0 38,1 36,7 37,7 38,5
8. Kim ngạch nhập khẩu 24,4 21,0 19 17,9 17,3

Liệu châu Á có thể cứu kinh tế toàn cầu?

Trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á hồi 1997-1998, các chuyên gia tài chính Mỹ giảng cho Châu Á về quản trị, minh bạch, và thị trường tự do. Từ đó, Châu Á đã tăng cường tiết kiệm và tìm nơi an toàn để gửi tiền. Tiền gửi của Châu Á đã góp phần cho phép Chính phủ Mỹ chi tiêu quá lớn và xa rời kỷ luật ngân sách. Trong bài viết, Giáo sư Linda Lim của đại học Michigan cho thấy do ngại rủi ro, Châu Á không thể sánh với Mỹ về chi tiêu, nhưng có thể dạy cho các thị trường toàn cầu về kỷ luật ngân sách.

Toàn cảnh khủng hoảng tài chính - ngân hàng 2008
Theo dòng sự kiện cuộc khủng hoảng tài chính 2008


Vai trò giảng dạy đã đổi? (ảnh minh họa: daylife, barnes&noble)




Nhìn lại cách đây 10 năm





Trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, Hàn Quốc đã phản đối “thang thuốc” của IMF. Ngày nay, dân châu Á yên ổn ngồi nhìn các ngân hàng Mỹ bị quốc hữu hóa.

Đó là những thay đổi sau một thập niên. Trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997, các chuyên gia ngân hàng và học giả phương Tây luôn chê bai Châu Á quản lý lỏng lẻo và thiếu minh bạch. Nay họ lại trông chờ sự hỗ trợ từ châu Á, khi hào quang hệ thống tài chính Anh-Mỹ đã tắt.

Sự sụp đổ kinh tế và tiền tệ của các quốc gia ở châu Á lúc đó không phải do hoang phí tiền tệ hay ngân sách. Ngân sách không thâm hụt cao, không xảy ra lạm phát do in tiền.


Các chuyên gia phương Tây đã giảng cho Châu Á... (ảnh: daylife)
Một số nước như Thái Lan đã cố định tỉ giá với đồng đô la, khi đô la mạnh lên thì đồng tiền của họ cũng có giá quá cao, đồng thời quá trình tự do hóa thị trường vốn đã thu hút dòng vốn ngắn hạn từ bên ngoài đổ vào. Dòng ’’tiền nóng" này đã tạo ra những bong bóng tài sản và gây thâm hụt lớn trong tài khoản vãng lai, từ đó hấp dẫn giới đầu cơ tiền tệ.

Một số nước, ví dụ như Indonesia, là nạn nhân của sự hoảng loạn tài chính, sau khi thấy đồng tiền sụp đổ ở nước láng giềng.

Từ đó, hầu hết các nhà kinh tế kết luận rằng tự do hóa thị trường vốn ở những nước đang phát triển không hẳn là tốt, lại còn không cần thiết và thậm chí có hại.

Sau khủng hoảng, các chính phủ và khu vực tài chính châu Á không thực hiện mô hình thị trường tự do kiểu Anh-Mỹ một cách đầy đủ, chỉ có Hàn Quốc là cho phép những đại gia cỡ Goldman Sachs mua lại một số ngân hàng trong nước. Ở mức độ vĩ mô, cuộc khủng hoảng làm tăng tâm lý lo ngại rủi ro, khiến các nước tăng cường mạnh mẽ mức thặng dư tài khoản vãng lai và dự trữ ngoại hối.

Còn Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục kiểm soát dòng vốn. Trung Quốc cũng giữ tỷ giá với đồng đô la cố định từ năm 1994.

Nước Mỹ trở thành nạn nhân của bài giảng

Khi đồng đô la giảm giá trong vài năm gần đây, thì tiền Trung Quốc cũng sụt giá tương ứng so với đồng Euro và đồng Yên. Các quốc gia châu Á khác cũng phải kiểm soát đồng tiền của họ để đảm bảo khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu. Để ngăn chặn tình trạng nâng giá tiền tệ thì họ phải chuyển thặng dư vốn và ngoại hối sang đô la, chủ yếu mua trái phiếu kho bạc Mỹ. Dòng vốn từ nước ngoài này đã giúp chính quyền Bush nâng thâm hụt ngân sách lên mức cao chưa từng có, để cắt giảm thuế, tăng chiến phí, trợ cấp nông nghiệp, phúc lợi y tế cho người cao tuổi...

Cũng không có gì ngạc nhiên, khi thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ tăng mạnh cùng lúc với bùng nổ về tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu công. Trước khi trở thành Thống đốc Ngân hàng Trung ương, giáo sư kinh tế Ben Bernanke của trường Princeton đã cho biết nguồn tiền tiết kiệm toàn cầu, đa phần từ châu Á, có thể giúp chính phủ Mỹ duy trì thâm hụt ngân sách trong thời gian dài.

Những nhà kinh tế ít lạc quan hơn như cựu Bộ trưởng Tài chính Larry Summers thì gọi đó là "sự cân bằng hoảng sợ về tài chính". Ông cảnh báo rằng, người nước ngoài sẵn sàng giữ tài sản tài chính Mỹ dù đã giảm giá trị, chỉ vì nếu rút tiền về thì họ còn mất nhiều hơn. Nỗi hoảng sợ ấy đã thành hiện thực tháng vừa qua, nhưng không phải do sự rút lui của nhà đầu tư nước ngoài, mà chính từ phố Wall.


Vay địa ốc dưới chuẩn an toàn và các loại hình chứng khoán hóa tiếp theo làm cho hệ thống tài chính vượt khỏi vòng kiểm soát (ảnh: daylife)

Các mức lãi suất thấp nhờ dòng vốn nước ngoài và chính sách của Fed đã khuyến khích các tổ chức tài chính mạo hiểm tìm kiếm lợi nhuận cao. Họ phát triển ra nhiều công cụ tài chính rất phức tạp, trong đó có vay địa ốc dưới chuẩn, chứng khoán hóa, chứng khoán phái sinh, hoán đổi tín dụng… và sự bùng nổ các quỹ đầu tư rủi ro.

Khác với những đồng nghiệp ở châu Âu, các ngân hàng và nhà đầu tư châu Á thời hậu khủng hoảng tiếp tục bảo toàn và tránh rủi ro, vì thế họ ít tham gia trực tiếp vào các loại chứng khoán mới. Tuy nhiên, đến nay họ cũng bị tác động bởi cơn địa chấn tín dụng toàn cầu.

Từ năm ngoái, khi quả bong bóng cho vay địa ốc tan vỡ, các quỹ tài chính nhà nước ở châu Á cũng như các nước xuất khẩu dầu và tài nguyên (như Na Uy, Australia và các nước vùng Vịnh) đã tìm cách đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình. Trái phiếu chính phủ Mỹ không còn hấp dẫn, do Fed liên tục cắt giảm lãi suất, lạm phát Mỹ tăng cao, và đồng đô la không ngừng mất giá.

Họ bắt đầu mua cổ phần lớn trong các tổ chức tài chính phương Tây như Blackstone (CIC của Trung Quốc mua) và UBS, Citigroup, Merrill Lynch (GIC và Temasek của Singapore mua). Trước đây, các công ty nhà nước như Dubai Ports World, hay CNOOC và các công ty truyền thông của Trung Quốc đã nỗ lực mua "tài sản cứng" ở Mỹ, nhưng họ thường bị chặn đứng bởi chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, từ thời điểm này năm ngoái, ít nhất là phố Wall đã trân trọng vốn nước ngoài hơn.

Liệu Châu Á có cứu nổi thế giới?

Trớ trêu thay, những quỹ quốc gia được ưa chuộng chính vì họ là sở hữu nhà nước. Khi không còn nhà đầu tư tư nhân lớn nào muốn đổ tiền vào các tổ chức tài chính đang rắc rối, thì các quỹ nhà nước lại có thể. Do nhà nước sở hữu, họ có thể đầu tư dài hạn hơn, chấp nhận rủi ro cao hơn, ít trách nhiệm giải trình hơn, và nếu họ lỗ thì cũng không lo cổ đông rút vốn.

Nhưng các quỹ đầu tư nhà nước cũng không thể đi quá đà. Họ quan ngại về phản ứng của các nhà bảo hộ trong năm bầu cử Tổng thống Mỹ. Họ cũng ngại đối mặt với quy định ngặt nghèo về công bố thông tin, một khi mua đến tỷ lệ nào đó (khoảng 10%) cổ phần trong một tổ chức tài chính của Châu Âu hay Mỹ.

Họ cũng ngại “ném lao phải theo lao” khi những khoản đầu tư như vậy đã mất đến 40% giá trị hay hơn nữa, đặc biệt là phản ứng chính trị trong nước khi họ đổ tiền cứu các tổ chức phương Tây. Ví dụ, Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc đã bị Chính phủ cấm mua lại ngân hàng Lehman Brothers của Mỹ. Chính phủ Trung Quốc thì bị cư dân mạng chỉ trích là phung phí tiền của người dân vào các dự án đầu tư tài chính mạo hiểm ở nước ngoài thay vì cứu nhà đầu tư trong nước đang khốn đốn bởi trên thị trường chứng khoán nội địa, hoặc đầu tư vào nhu cầu xã hội trong nước.

Tuy nhiên, khi thị trường tài chính tiếp tục sụt giảm và khi cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đã ngã ngũ, thì các quỹ đầu tư nhà nước có thể tái chiếm lĩnh thị trường, vơ vét những tài sản đang bán đổ bán tháo. Ngân hàng Mitsubishi của Nhật đang làm vậy với Morgan Stanley, và Nomura Securities đã mua các tài sản ở nước ngoài của Lehman. Chuyện này đã từng xảy ra sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, chỉ khác là vai trò đã đảo ngược.

Tuy nhiên, trừ phi người Mỹ sẵn lòng để chính phủ nước ngoài kiểm soát các tài sản tài chính cơ bản, vốn là trung tâm của hệ thống tư bản Mỹ, dòng vốn này sẽ không đủ lớn để tạo ra sự khác biệt đáng kể với thị trường vốn.

Người tiêu dùng châu Á cũng không thể cứu kinh tế Mỹ bằng cách mua thật nhiều hàng xuất khẩu của nước này, bởi vì Mỹ chiếm khoảng 20% GDP của thế giới trong khi Trung Quốc chỉ chiếm 5%. Tăng tiêu dùng ở châu Á chủ yếu là mua hàng hóa và dịch vụ của nhau, hơn là mua hàng của Mỹ, đắt hơn và ở xa hơn.


Đừng trông chờ nguồn vốn từ Châu Á cứu giúp (ảnh: daylife)

Vì thế, đừng trông chờ nguồn vốn hay tiêu dùng Châu Á sẽ cứu nguy cho kinh tế phương Tây. Mặt khác, rất có thể sự thất bại của kinh tế tư bản thị trường phương Tây sẽ thúc đẩy sự trở lại của những chế độ kinh tế - chính trị dựa vào nhà nước nhiều hơn, một sự thay đổi hoàn toàn so với xu hướng tự do hóa của thập kỷ 1990.

Điều gì sẽ đến với Châu Á?

Chúng ta có thể tính đến ba kết quả sau:

Đầu tiên, việc tự do hóa tài chính, thị trường hóa và dân chủ hóa ở châu Á sẽ diễn ra với tốc độ chậm hơn bởi tính cẩn trọng trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Thứ hai, châu Á tiếp tục tăng đầu tư tài chính và đầu tư trực tiếp vào Mỹ, song không tăng mạnh và nhanh.

Thứ ba, đối lập với xu hướng một chiều sau cuộc khủng hoảng 1997 là “học tập phương Tây” về quản lý hệ thống tài chính, sẽ có thêm những học tập và chia sẻ hai chiều. Khác với những gì đã hình dung cách đây 10 năm, Chính phủ sẽ đóng vai trò lớn hơn về quản lý cũng như đầu tư. Thay vì hệ thống tài chính toàn cầu đặt ra kỷ luật cho các chính phủ, mà các chính phủ cũng đặt ra kỷ luật cho những thành viên của thị trường toàn cầu.

Cuối cùng, kinh tế châu Á sẽ chưa bỏ mô hình tăng trưởng dựa vào tiết kiệm cao, tiêu dùng thấp, đầu tư cao, xuất khẩu nhiều, thặng dư tài khoản vãng lai lớn, dự trữ ngoại hối cao, và quản lý tiền tệ chặt. Ở cả châu Á và Mỹ, vai trò nhà nước vẫn tồn tại trong kinh tế.

26 Sept 2008

Phố Wall: Đánh đổi tự do để tồn tại?

Cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ đã làm thay đổi toàn bộ hình ảnh Phố Wall một cách nhanh chóng.

Trong 6 tháng qua, 3 trong 5 ngân hàng đầu tư lớn nhất nước Mỹ đã bị xóa sổ. Việc 2 ngân hàng đầu tư độc lập còn lại là Morgan Stanley và Goldman Sachs vừa chuyển đổi mô hình hoạt động sang tập đoàn ngân hàng tổng hợp (bank holding company) đã kết thúc một giai đoạn lịch sử hoàng kim của Phố Wall với mô hình ngân hàng đầu tư độc lập (financial holding company).

Bài viết này nhằm chia sẻ về mô hình hoạt động mới của ngân hàng đầu tư trong bối cảnh mới nhằm chống chọi với khủng hoảng tài chính.

Người viết cho rằng động lực chính của việc chuyển đổi mô hình hoạt động xuất phát từ bản năng sinh tồn của các ngân hàng đầu tư trong hoàn cảnh hiện tại khi các khoản lợi nhuận ngày càng giảm sút, việc huy động vốn mới rất khó khăn và chi phí tăng cao.

Ngân hàng thương mại với ưu thế về nguồn vốn dài hạn, ổn định, chi phí thấp sẽ giúp ngân hàng đầu tư có đủ sức kháng cự chống lại một trong những cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong lịch sử tài chính. Mô hình mới này có những thuận lợi và thách thức nhất định.

Mô hình "cũ" cho hoàn cảnh "mới"

Mô hình mà Morgan Stanley và Goldman Sachs đã chọn chính là mô hình tập đoàn ngân hàng tổng hợp (universal bank) với sự kết hợp giữa hoạt động ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại.

Đây không phải là một mô hình mới mà đã được hầu hết các tập đoàn ngân hàng thương mại lớn trên thế giới áp dụng trong thập kỷ qua nhằm tạo ra những "siêu thị tài chính" cung cấp cho khách hàng tổng thể các loại sản phẩm đầu tư đa dạng trên thị trường vốn cũng như dịch vụ ngân hàng thương mại.

Mô hình ngân hàng tổng hợp đã có từ lâu trong lịch sử ngành tài chính. Sau cuộc Đại khủng hoảng năm 1929, mô hình này đã bị cấm bởi đạo luật Glass-Steagall ra đời năm 1933, nhằm tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại.

Chỉ đến năm 1999, dưới sức ép của các ngân hàng thương mại nhằm mở rộng phạm vi họat động, đạo luật Glass-Steagall mới bị thay thế bởi đạo luật Glamm-Leach-Bliley, nhằm cho phép sự tái hợp giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại, hình thành nên các tập đoàn ngân hàng tổng hợp.

Các tên tuổi như Citi Group, JP Morgan, Deutsche Bank, UBS, Credit Suisse, Barclays đều đã áp dụng mô hình này. Citi Group là ngân hàng đi đầu trong cuộc cách mạng này với việc sáp nhập với Travellers là một tập đoàn chuyên về bảo hiểm, môi giới chứng khoán và ngân hàng đầu tư (Salomon Smith Barney). Cuộc hôn nhân này được thực hiện năm 1998 gây nhiều tranh cãi pháp lý song đã mở đường cho việc thay thế đạo luật Glass-Steagall vào năm 1999. Các tập đoàn ngân hàng tổng hợp ngày nay đều có tiền thân là hoạt động ngân hàng thương mại rồi vươn ra hoạt động ngân hàng đầu tư thông qua tăng trưởng cơ học (mua bán, sáp nhập) hoặc tăng trưởng sinh học (tự xây dựng).

Với việc Morgan Stanley và Goldman Sachs chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng hợp, lịch sử được chứng kiến việc thực hiện mô hình "cũ" theo một cách thức "mới": ngân hàng đầu tư lấn sân sang ngân hàng thương mại.

Trong thực tế, không phải bây giờ các ngân hàng đầu tư mới bắt đầu xây dựng hoạt động ngân hàng thương mại. Goldman Sachs đã thành lập ngân hàng thương mại Goldman Sachs Bank USA va Goldman Sachs Bank Europe nhưng với quy mô nhỏ (tiền gửi huy động 20 tỷ USD).

Với mô hình mới, Goldman sẽ mở rộng quy mô mảng ngân hàng thương mại với tổng tài sản dự kiến 150 tỷ USD. Goldman Sachs sẽ trở thành ngân hàng tổng hợp lớn thứ 4 của Mỹ.

Morgan Stanley cũng đã có hoạt động ngân hàng thương mại (với số tiền gửi huy động được 36 tỷ USD) và sẽ tiếp tục mở rộng mảng kinh doanh này. Việc bán 20% cổ phần cho Mitshubishi UFJ Financial thể hiện cam kết mạnh mẽ của Morgan Stanley theo mô hình mới.

Với việc chuyển đổi sang mô hình mới, Phố Wall giờ đây đã thuộc về tay FED. Cuộc tranh giành quyền lực ảnh hưởng của FED và Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) đối với Phố Wall vốn dai dẳng lâu nay, đã đến hồi kết thúc.

Thuận lợi

Mô hình mới mang lại một số thuận lợi mà quan trọng nhất là nguồn vốn.

Ngân hàng đầu tư thực chất là một công ty tài chính với hoạt động kinh doanh rủi ro trên thị trường vốn, do đó không được phép nhận tiền gửi của khách hàng. Nguồn vốn của ngân hàng đầu tư chủ yếu là vốn cổ đông, vốn vay ngân hàng và phát hành trái phiếu.

Ngoài ra, một nguồn vốn quan trọng khác của ngân hàng đầu tư được hình thành qua nghiệp vụ repo, tức là đi vay có bảo đảm bằng các chứng khoán. Việc kết hợp đi vay và cho vay thông qua "repo" và "reverse repo" hình thành nên hoạt động "khớp sổ" (match-book), cho phép ngân hàng đầu tư xây dựng quy mô bảng cân đối một cách dễ dàng, do đó tạo ra một hệ số đòn bẩy rất cao (20-30 lần).

Nhược điểm của các nguồn vốn này thường mang tính chất ngắn hạn, không ổn định và chi phí cao. Trong khi đó ngân hàng thương mại lại có đặc ân huy động tiền gửi của khách hàng hình thành nên một nguồn vốn ổn định và rẻ. Hơn nữa, do ngân hàng tổng hợp có mức độ rủi ro thấp hơn so với ngân hàng đầu tư, việc huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu của ngân hàng tổng hợp cũng rẻ hơn.

Ngoài ưu thế về vốn, mô hình ngân hàng tổng hợp còn có một số lợi thế khác. Thứ nhất, lợi thế về khách hàng và sản phẩm. Việc tận dụng mạng lưới khách hàng và sản phẩm đa dạng hơn cho phép ngân hàng đầu tư bán chéo sản phẩm cho các khách hàng nhằm đa dạng hóa các nguồn thu nhập. Trong giai đoạn khó khăn nguồn thu nhập ổn định của mảng ngân hàng thương mại sẽ đóng vai trò chính, trong khi mảng ngân hàng đầu tư sẽ có thể mang lại các khoản lợi nhuận lớn cho ngân hàng khi nền kinh tế tăng trưởng trở lại.

Thứ hai, việc chuyển đổi mô hình sang ngân hàng tổng hợp cho phép ngân hàng tránh được một số quy định nghặt nghèo của chuẩn mực kế toán của Mỹ, do đó một số tài sản không cần hạch toán theo giá trị hợp lý (fair value accounting). Điều này sẽ giảm bớt một số khoản dự phòng giảm giá một cách hợp lệ.

Cuối cùng, việc chuyển đổi mô hình còn cho phép ngân hàng đầu tư tiếp cận các dịch vụ cứu trợ của Cục Dự trữ Liên bang (FED). Việc cứu trợ này gồm nhiều hình thức khác nhau như tiếp cận dịch vụ cho vay thông qua chiết khấu tài sản đảm bảo (discount window) nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản; cứu trợ với tư cách là người cho vay cuối cùng (last resort lender); và các chương trình cứu trợ khác.

Với việc FED đang trình Quốc hội thông qua gói cứu trợ trị giá 700 tỷ USD nhằm mua lại các gói trái phiếu rủi ro trên bảng cân đối của các ngân hàng thương mại thì việc chuyển đổi lần này có tầm quan trọng sự sống còn đối với các ngân hàng đầu tư trong hoàn cảnh hiện tại.

Do dịch vụ cứu trợ của FED thông thường chỉ áp dụng cho ngân hàng thương mại chịu sự giám sát của FED mà không áp dụng cho các ngân hàng đầu tư vốn chịu sự giám sát của Ủy ban Chứng khoán Mỹ, việc các ngân hàng đầu tư đi tìm một người "đỡ đầu" mới trong hoàn cảnh hiện tại cũng là điều dễ hiểu.

Thách thức

Để tận dụng được những thuận lợi theo mô hình mới, các ngân hàng đầu tư phải chịu những hy sinh nhất định, mà sự hy sinh lớn nhất là sự tự do. Chính vì vậy, có thể ví đây là một cuộc "đánh đổi tự do để tồn tại".

Nếu như trước đây, các ngân hàng đầu tư có thể tự đưa ra các quyết định kinh doanh rủi ro, sử dụng đòn bẩy tài chính cao nhằm tạo ra các khoản lợi nhuận khổng lồ (dưới sự giám sát của SEC) thì giờ đây họ chấp nhận sự giám sát chặt chẽ của FED, SEC và cơ quan bảo hiểm tiền gửi, trong đó, FED sẽ có vai trò là cơ quan giám sát tổng hợp.

Các ngân hàng tổng hợp sẽ phải thành lập ra các công ty con chuyên về hoạt động ngân hàng thương mại và các hoạt động này phải tuân thủ các quy định chặt chẽ về an toàn cũng như cơ chế báo cáo. Việc tuân thủ các yêu cầu giám sát của cả FED, SEC và cơ quan bảo hiểm tiền gửi sẽ phát sinh chi phí và đòi hỏi hệ thống thông tin quản lý tiên tiến. Việc đầu tư cho con người và công nghệ thông tin có vai trò quan trọng.

Các quy định về an toàn vốn theo Hiệp định Basel II áp dụng cho ngân hàng thương mại có mức độ ngặt nghèo hơn nhiều so với ngân hàng đầu tư. Điều này sẽ hạn chế các hoạt động rủi ro và sử dụng đòn bẩy tài chính quá trớn. Hệ số đòn bẩy tài chính chắc chắn sẽ phải giảm từ mức 25-30 lần hiện tại xuống dưới 20 lần. Ngoài ra việc trích lập các quỹ như tiền gửi bắt buộc, tiền gửi thanh toán, bảo hiểm tiền gửi đối với mảng ngân hàng thương mại sẽ sẽ là những chi phí tài chính đi kèm.

Việc thay đổi mô hình hoạt động có thể sẽ làm thay đổi văn hóa doanh nghiệp truyền thống của các ngân hàng đầu tư. Các nhân viên sẽ phải thay đổi quan điểm và thái độ của họ đối với rủi ro và phải suy nghĩ kỹ hơn trước từng quyết định kinh doanh rủi ro cao.

Hơn nữa, do tính chất hoạt động của ngân hàng thương mại đòi hỏi nguồn nhân lực lớn, thu nhập bình quân đầu người chắc chắn sẽ giảm xuống. Các nhân viên đầu tư (dealer) vốn ham thích mạo hiểm rủi ro sẽ cảm thấy khó chịu trong một môi trường mới và thu nhập giảm sút.

Do đó, rất có thể sẽ diễn ra một làn sóng chất xám chảy sang các quỹ đầu cơ (hedge funds) hay các công ty đầu tư vốn tư nhân (private equity firms).

Tính bền vững của mô hình?

Với những gì đang diễn ra của một cuộc khủng hoảng tài chính khốc liệt, việc chuyển đổi mô hình hoạt động sang ngân hàng tổng hợp đang được coi là một giải pháp phù hợp.

Về mặt pháp lý, đạo luật Glamm-Leach-Bliley (1999) đã cho phép việc hình thành ngân hàng tổng hợp và đây chỉ là một sự vận dụng sự cho phép này trong hoàn cảnh mới. Tuy nhiên để kết luận tính bền vững của mô hình này có lẽ sẽ cần sự thử nghiệm qua thời gian. Lịch sử cho thấy mỗi mô hình chỉ phù hợp cho từng giai đoạn lịch sử nhất định phù hợp với từng trình độ phát triển.

Mô hình ngân hàng tổng hợp không phải là một mô hình hoàn hảo. Chính các nhược điểm của mô hình này làm cho hậu quả cuộc Đại khủng hoảng 1929 thêm trầm trọng và là lý do đạo luật Glass-Steagall (1933) ra đời nhằm tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Một số nhược điểm bao gồm:

- Rủi ro và sự an toàn của ngân hàng thương mại: các ngân hàng tham gia vào bảo lãnh phát hành và đầu tư chứng khoán có thể dẫn đến rủi ro cho các khách hàng gửi tiền và Chính phủ phải đứng ra cứu vớt. Hơn nữa sự sụp đổ của các ngân hàng thương mại có thể làm mất niềm tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng và dẫn tới đổ vỡ hệ thống tài chính;

- Mâu thuẫn lợi ích dẫn đến lạm dụng: việc cung cấp cả dịch vụ ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư có thể dẫn tới mâu thuẫn lợi ích. Ví dụ ngân hàng có thể chấp nhận cho vay các khoản vay dưới chuẩn cho các doanh nghiệp trong tình trạng khó khăn hay chuẩn bị phá sản chỉ vì ngân hàng đang nắm giữ chứng khoán nhằm cứu giá. Ví dụ khác, ngân hàng có thể ép các khách hàng tín dụng của mình đầu tư vào các chứng khoán mà bản thân ngân hàng muốn bán ra trong quá trình đầu tư hay phân phối phát hành chứng khoán.

- Sự cạnh tranh không công bằng: ngân hàng thương mại được trợ cấp một phần bảo hiểm tiền gửi do đó được phép huy động vốn nhà rỗi trong dân rẻ hơn thông qua các khoản tiết kiệm. Do đó nếu cho phép kinh doanh ngân hàng đầu tư, họ có thể cạnh tranh tốt hơn các đối thủ ngân hàng đầu tư khác không có hoạt động ngân hàng thương mại;

- Sự tập trung quyền lực: việc kết hợp ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư sẽ tạo nên một quyền lực lớn của các ngân hàng thương mại và dẫn đến việc họ thôn tính các ngân hàng đầu tư. Việc này sẽ dẫn đến độc quyền cạnh tranh và hoạt động không hiệu quả, ảnh hưởng quyền lợi khách hàng.

Các nhược điểm nêu trên không phải là không có cơ sở. Ngay đầu năm 2008, Citi Group đã chịu khoản tổn thất nặng nề từ hoạt động ngân hàng đầu tư và điều này đã đe dọa sự an toàn của mảng ngân hàng thương mại.

Hơn nữa, một câu hỏi đặt ra là bản thân các ngân hàng đầu tư có thực sự muốn chuyển đổi hay đây chỉ là một giải pháp tình thế. Lịch sử cho thấy khi chu kỳ kinh tế bùng nổ tăng trưởng, một số ngân hàng đầu tư sẵn sàng tự tách mình ra khỏi hoạt động ngân hàng thương mại nhằm tìm lại sự tự do. Sự "chân thành" của việc chuyển đổi lần này chỉ có thể được trả lời theo năm tháng.

Mô hình nào cho hoàn cảnh Việt Nam?

Với sự vận động nhanh chóng của tình hình thế giới, Việt Nam cần tìm cho mình một mô hình vừa phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, vừa có khả năng đón đầu tương lai mà vẫn giữ được tính an toàn của hệ thống. Đây là một vấn đề phức tạp, cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng của các cơ quan chức năng.

Việt Nam hiện cho áp dụng mô hình ngân hàng tổng hợp với việc các ngân hàng thương mại hình thành các công ty chứng khoán trực thuộc. Ngoài ra còn có hàng chục công ty chứng khoán hoạt động độc lập. Đối với ngân hàng tổng hợp, hiện Ngân hàng Nhà nước là cơ quan giám sát chung, trong khi đó Ủy ban Chứng khoán giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán.

Hiện Ngân hàng Nhà nước đã có quy định các ngân hàng mẹ không được cấp tín dụng cho các công ty chứng khoán trực thuộc. Do đó bản chất ngân hàng tổng hợp tại Việt Nam có một số khác biệt với mô hình ngân hàng tổng hợp của quốc tế. Sự tách bạch nguồn vốn này là một định hướng đúng đắn trong hoàn cảnh hiện tại khi trình độ quản trị rủi ro và ý thức chấp hành rủi ro của các ngân hàng chưa cao nhằm hạn chế việc sử dụng tiền gửi của khách hàng sang đầu tư chứng khoán.

Tuy nhiên, hiện tại các ngân hàng thương mại cũng được phép cho vay đầu tư chứng khoán với hạn mức dưới 20% vốn điều lệ, theo quy định mới. Các ngân hàng thương mại thường ủy thác cho các công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ cho vay này song rủi ro vẫn thuộc ngân hàng thương mại. Thiết nghĩ, Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét cho phép các ngân hàng mẹ chuyển nguồn vốn này xuống các công ty chứng khoán trực thuộc thông qua khoản cho vay nội bộ để họ thực hiện chức năng kinh doanh này. Trong tương lai khi thị trình độ quản lý rủi ro tốt hơn, Ngân hàng Nhà nước có thể nới lỏng dần các quy định cho vay của ngân hàng mẹ đối với công ty chứng khoán. Việc nới lỏng này có thể được thực hiện thông qua các công cụ không mang tính hành chính như tỷ lệ an toàn vốn.

Với mô hình hoạt động hiện tại, tất nhiên vẫn có thể phát sinh một số rủi ro. Việc phối hợp giám sát giữa Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán có tầm quan trọng đối với việc duy trì hoạt động an toàn của hệ thống.

Người viết xin đưa ra một số khuyến nghị tham khảo.

- Ngân hàng Nhà nước cần giám sát các khoản cho vay từ ngân hàng mẹ sang công ty chứng khoán con dưới các hình thức biến tướng. Ví dụ ngân hàng mẹ bảo lãnh để ngân hàng con đi vay ở ngân hàng khác, hoặc cách thức cho vay lòng vòng qua các trung gian thứ 3 khác. Bản chất và tinh thần của quy định luôn quan trọng hơn hình thức thể hiện;

- Ủy ban Chứng khoán nên nghiên cứu xây dựng và đưa vào áp dụng về tỷ lệ an toàn vốn đối với các công ty chứng khoán được cấp phép (regulated entities);

- Bộ Tài chính cần sớm xây dựng và hoàn chỉnh chuẩn mực kế toán cho các hoạt động của công ty chứng khoán theo tinh thần chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 theo hướng ghi nhận giá trị tài sản và công nợ theo giá trị thị trường. Các thông lệ kế toán áp dụng cho hoạt động chứng khoán tại Việt Nam hiện còn bất cập so với kế toán quốc tế và có thể dẫn tới rủi ro không được phát hiện kịp thời;

- Các ngân hàng tổng hợp cần tạo sự ngăn cách tương đối giữa hoạt động ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng xần xây dựng cơ chế phát hiện và ngăn chặn các hoạt động mâu thuẫn lợi ích;

- Các ngân hàng tổng hợp cũng như các công ty chứng khoán cần xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tiên tiến nhằm đo lường và quản lý rủi ro, đặc biệt là các rủi ro thị trường.